The Festivals and Their Meaning I: Christmas
VII. Mặc Khải về Đức Christ Vũ Trụ
Lễ Hội Đêm Thánh (Holy Night) từ nhiều thế kỷ qua đã là một đại lễ tưởng niệm trong toàn thế giới Kitô giáo. Và khi ta nghĩ về lễ hội ấy như một lễ tưởng niệm, ta phải ghi nhớ tất cả những gì đã được con người gắn liền với ngày lễ này trong cảm xúc và trong trái tim họ.
Cũng cần nhớ rằng lễ hội ngày 25 tháng Mười Hai không trở thành một thiết chế chính thức trong Kitô giáo cho đến thế kỷ thứ tư sau Công nguyên. Chính vào thế kỷ thứ tư—lần đầu tiên là năm 354 tại Rome—Lễ Sinh Nhật của Chúa Jesus mới được đặt trước Kitô giáo như một cống hiến lớn lao, đáng ghi nhớ của thời đại. Chính từ những bản năng thâm sâu nhất của tiến trình phát triển Kitô giáo mà cống hiến ấy được hình thành vào thế kỷ thứ tư.
Các dân tộc phương Bắc đang tràn xuống phía Nam của châu Âu. Nhiều phong tục ngoại giáo vẫn còn phổ biến tại các vùng phía Nam châu Âu, tại những khu vực La Mã và Hy Lạp; các tục lệ ngoại giáo cũng lan rộng ở Bắc Phi, Tiểu Á—tóm lại là khắp nơi mà tư tưởng và tình cảm Kitô giáo bắt đầu lan tỏa dần dần.
Nhưng ngay từ bản chất, Kitô giáo không hề được định sẵn để trở thành một giáo lý mang tính bè phái, chỉ dành cho một nhóm người nào đó. Dù có rất nhiều yếu tố, cả bên trong lẫn bên ngoài, đã làm suy giảm mục đích ban đầu ấy, Kitô giáo vẫn vốn được định để nuôi dưỡng linh hồn và trái tim tất cả con người trên trái đất.
Trong ý thức tôn giáo thời cổ đại, các Quyền Lực Thiêng Liêng được gắn liền với các vì sao, và Quyền Lực tối thượng thì gắn với mặt trời. Ý thức này vẫn sống động trong tâm thức của các dân ngoại giáo cả ở phương Bắc lẫn phương Nam châu Âu. Trong tâm thức ngoại giáo ấy có tư tưởng rằng khi Trái Đất đi vào những ngày tối tăm nhất của mình—tại điểm đông chí—cũng chính là lúc quyền lực chiến thắng của mặt trời, quyền lực mang lại mọi sinh khí cho trái đất, bắt đầu nở ra trở lại.
Cảm giác rằng vào thời điểm ấy, Trái Đất rút vào chính bản thể của mình, tách biệt khỏi các Quyền Lực Thiêng Liêng của vũ trụ và sống cô đơn trong không gian, sẽ được thay thế—vào dịp đông chí—bằng cảm giác hy vọng: rằng lần nữa, những tia sáng và tia yêu thương từ cõi mặt trời lại đến để đánh thức Trái Đất trổ sinh.
Và một sự nhận thức về bản chất của chính linh hồn con người cũng được gắn chặt với cảm thức này.
Trong đời sống của những tôn giáo ngoại giáo cổ xưa, con người cảm thấy mình thuộc về Trái Đất từ bên trong, như một chi thể của Trái Đất. Cứ như thể chính sự sống của Trái Đất được tiếp nối trong thân thể ông.
Vì vậy, vào những ngày hè, khi Trái Đất đón nhận những lực mạnh mẽ nhất của ánh sáng và hơi ấm từ cõi trời của Mặt Trời, con người cũng cảm thấy bản thể mình được trao cho thế giới từ nơi những tia sáng đầy ấm áp ấy chiếu xuống Trái Đất.
Vào giữa mùa hè, ông cảm nhận như toàn bộ bản thể mình được phó mặc cho không gian vũ trụ bao la.
Trong thời điểm đông chí, con người cảm thấy mình gắn bó sâu xa với Trái Đất và với tất cả những lực đã được gìn giữ trong lòng Đất từ ánh sáng và hơi ấm của mùa hè. Cùng với Trái Đất, ông cảm thấy mình sống trong cô tịch giữa vũ trụ.
Và sự trở lại của các lực từ cõi Thần Linh – Thiêng Liêng xuống Trái Đất vào thời điểm đông chí là một trải nghiệm sâu sắc và chân thực trong ông.
Và vì thế, trong tư tưởng về Lễ Giáng Sinh, con người gửi vào đó tất cả những gì mà đời sống cảm xúc, đời sống linh hồn và tinh thần mang đến cho ông trong mối liên hệ mật thiết với tính phổ quát của các Quyền lực vũ trụ.
Trải nghiệm thiêng liêng này của lễ đông chí đã gắn bó mật thiết với xung lực Kitô giáo, và vì thế thật tự nhiên khi những ai tiếp xúc với Kitô giáo cũng chia sẻ trải nghiệm quý giá ấy—một trải nghiệm gắn với lễ đông chí.
Hài hòa với sự chuyển đổi từ thời Cựu Ước sang Tân Ước, trải nghiệm thiêng liêng được trân quý nhất của Kitô giáo nằm ở sự tưởng nhớ đến sự chào đời của Chúa Jesus.
Các dân tộc trong Cựu Ước diễn tả mầu nhiệm lớn lao của đời sống và cái chết bằng lời: khi linh hồn đi qua cánh cửa của cái chết, nó bước lên con đường để được đoàn tụ với các Tổ Phụ.
Điều này có nghĩa gì?
Nó có nghĩa rằng thời ấy có một khao khát sâu xa trở về với các Tổ Phụ, và đó là một trải nghiệm sâu thẳm, thiêng liêng trong tâm thức Cựu Ước.
Trong bốn thế kỷ đầu của Kitô giáo, nỗi khao khát được hiệp thông với các Tổ Phụ được thay thế bởi một điều khác. Linh hồn con người hướng về sự chào đời của Đấng là trung tâm của toàn bộ Kitô giáo. Cảm thức của dân tộc Cựu Ước dần biến thành cảm thức gắn với các biến cố ở Nazareth hoặc Bethlehem, với sự ra đời của Hài Nhi Jesus.
Và như thế, khi thiết lập Lễ Giáng Sinh vào thế kỷ thứ tư, Kitô giáo đã mang đến một đóng góp nhằm gắn kết con người khắp trái đất. Một trải nghiệm sâu thẳm và thiêng liêng được gắn với lễ Giáng Sinh.
Khi ta nhìn lại cách mà lễ Giáng Sinh được cử hành qua các thế kỷ, ta thấy rõ rằng vào thời điểm Giáng Sinh đến gần, linh hồn của con người Kitô giáo tràn đầy sự sùng mộ yêu thương dành cho Hài Nhi Jesus.
Và chính sự sùng mộ yêu thương ấy là sự mặc khải của một điều vĩ đại xuyên suốt các thời đại.
Ta phải thật sự hiểu từ bên trong ý nghĩa của việc Lễ Giáng Sinh được đặt vào ngày 25 tháng 12, tức gần đúng thời điểm đông chí.
Bởi vì, thậm chí đến năm 354, ngay tại Rome, lễ này vẫn chưa được cử hành vào ngày 25 tháng 12, và cũng không nhằm tưởng nhớ sự sinh ra của Jesus Nazareth.
Lễ được cử hành vào ngày 6 tháng 1, để tưởng nhớ Lễ Rửa Tội ở sông Jordan—một lễ tưởng niệm gắn với Đấng Christ. Lễ này mang tư tưởng rằng qua việc Rửa Tội, Christ—một Đấng thuộc về thế giới ngoài trái đất—đã từ trời đi xuống và hợp nhất với nhân tính trong con người Jesus Nazareth.
Đó là một lễ mừng sự chào đời không phải theo nghĩa thông thường, mà là sự mừng lễ mừng sự giáng trần của Đấng Christ, qua đó những lực sống mới mẻ đã tuôn vào sự tồn tại của Trái Đất.
Ngày ấy được dành cho sự mặc khải của Christ, để tưởng nhớ mầu nhiệm rằng một lực thiêng liêng từ trời đã hợp nhất với Trái Đất và mang đến một xung lực mới cho sự tiến hóa của nhân loại.
Mầu nhiệm sự giáng trần của một Đấng từ trời xuống thế vẫn còn được con người hiểu trong thời kỳ xảy ra Sự kiện Golgotha, và một thời gian sau đó. Bởi lúc ấy vẫn còn những mảnh vụn của trí huệ cổ xưa—một trí huệ chỉ có thể hiểu được qua kinh nghiệm siêu cảm.
Nhưng trí huệ ấy dần phai nhạt, và đến thế kỷ thứ tư thì gần như biến mất. Tâm trí con người bị lấp đầy bởi những tín ngưỡng ngoại giáo du nhập từ khắp nơi, và họ không còn có khả năng hiểu được mầu nhiệm của sự hợp nhất giữa Christ và con người Jesus.
Tuy nhiên, xung lực Kitô giáo vô cùng mạnh mẽ.
Và tình yêu chính là lực đã đến để thay thế cho trí huệ từng thấu hiểu Mầu nhiệm Golgotha.
Qua các thế kỷ, tình yêu thương đã tuôn tràn từ trái tim con người hướng về Hài Nhi trong máng cỏ.
Điều này còn được phản ánh tuyệt đẹp trong các vở kịch Giáng Sinh từ những thế kỷ trước.
Nhưng ai có thể phủ nhận rằng tình yêu ấy, qua thời gian, đã trở nên gần như một thói quen?
Ai có thể phủ nhận rằng trong thời đại của chúng ta, lễ Giáng Sinh đã mất đi phần nào sức sống thiêng liêng vốn có?
Người Cựu Ước khao khát trở về với cội nguồn, với các Tổ Phụ.
Người Kitô hữu hướng tâm về bản chất nguyên sơ, thanh sạch của nhân tính, khi cử hành ngày sinh của Jesus.
Và chính từ bản năng Kitô giáo này—bản năng kết nối lễ Giáng Sinh với nguồn gốc của con người—mà ngày 24 tháng 12 được dành cho Adam và Eva.
Ngày của Adam và Eva đứng trước ngày sinh của Jesus.
Và từ một trực cảm sâu xa ấy, Cây Địa Đàng (Tree of Paradise) được kết nối như một biểu tượng của Lễ Giáng Sinh.
Chúng ta hướng ánh mắt trước tiên về máng cỏ ở Bê-lem, về Hài Nhi nằm đó giữa những con vật đang đứng quanh người Mẹ được chúc phúc. Đó là một biểu tượng thiên giới của cội nguồn nguyên sơ của nhân loại. Tâm hồn và tư tưởng chúng ta được dẫn trở lại với nguồn gốc trần thế của con người, đến Cây Địa Đàng; và gắn liền với Cây Địa Đàng ấy là máng cỏ, cũng giống như trong Thánh Truyền, nguồn gốc của loài người trên trái đất được kết nối với Mầu Nhiệm Golgotha.
Thánh Truyền kể rằng gỗ của Cây Địa Đàng đã được truyền lại một cách nhiệm mầu từ thế hệ này sang thế hệ khác cho đến thời của Mầu Nhiệm Golgotha, và rằng Thập Giá dựng trên đồi Sọ—Thập Giá nơi Đức Kitô Giê-su chịu treo mình—được làm từ chính loại gỗ ấy của Cây Địa Đàng. Nói cách khác, nguồn gốc thiên giới của con người được nối kết với nguồn gốc trần thế của họ.
Theo một ý nghĩa khác, tư tưởng căn bản của Kitô giáo qua thời gian cũng dần xóa nhòa sự hiểu biết về những điều này. Ngày nay, không ai có thể phủ nhận rằng con người hầu như không còn thấu hiểu được chân lý rằng Thần Tính có thể được tôn kính như Nguyên Lý của Chúa Cha, nhưng đồng thời Thần Tính cũng có thể được nhận thức như Chúa Con. Nhân loại nói chung, cũng như nền thần học “khai sáng” của chúng ta, đã gần như đánh mất sự phân biệt trong bản tính giữa Thiên Chúa Cha và Thiên Chúa Con.
Và bởi sự thấu hiểu này đã bị đánh mất, chúng ta thấy trường phái thần học chính thống hiện đại nhất tuyên bố rằng thực chất các sách Tin Mừng nói về Thiên Chúa Cha chứ không phải Thiên Chúa Con, rằng Giê-su thành Nazareth chỉ đơn thuần được xem như một Bậc Thầy vĩ đại, một sứ giả của Thiên Chúa Cha.
Ngày nay, khi con người nói đến Đức Christ, họ vẫn gắn ngọn lửa của Ngài với vài ký ức từ Thánh Truyện, nhưng họ không còn có một cảm nhận rõ ràng nào về sự khác biệt trong bản tính giữa Chúa Con và Chúa Cha. Thế nhưng vào thời điểm khi Mầu Nhiệm Golgotha được hoàn tất trong cõi hiện sinh trên trần thế, cảm nhận ấy vẫn còn sống động và mãnh liệt.
Ở phương Đông xa xôi, tại một vùng đất chẳng mấy quan trọng đối với La Mã lúc bấy giờ, Đức Christ đã xuất hiện trong con người Giê-su thành Nazareth. Theo các Kitô hữu thời đầu, Đức Christ là Bản Tính Thiêng Liêng đã nhập vào một con người theo cách chưa từng xảy ra trước đó và cũng sẽ không bao giờ xảy ra lần thứ hai trên trái đất. Và chính sự kiện duy nhất này—Mầu Nhiệm Golgotha, việc một con người được linh hồn bởi một Bản Tính Thiêng, bởi Đức Christ—mang lại ý nghĩa và mục đích cho toàn bộ tiến trình tiến hóa của trái đất. Tất cả những gì diễn ra trước đó phải được xem như sự chuẩn bị cho biến cố Golgotha, và mọi diễn tiến sau đó là sự thành tựu, là hệ quả của Mầu Nhiệm Golgotha.
Khung cảnh của biến cố ấy nằm ở phương Đông, còn trên ngai vàng La Mã lúc đó là hoàng đế Augustus Caesar. Người thời nay không còn nhận ra rằng Augustus Caesar khi ngồi trên ngai La Mã được xem như một Hóa Thân của Thần. Các hoàng đế La Mã thực sự được tôn thờ như những vị thần trong hình hài con người.
Và thế là, chúng ta có hai quan niệm hoàn toàn khác nhau về Thần Tính:
— Một vị thần trên ngai vàng La Mã;
— Và một vị thần trên đồi Golgotha—nơi của một cái sọ.
Không thể có sự tương phản nào lớn hơn thế!
Hãy hình dung hình ảnh Caesar Augustus—người mà, theo thần dân của ông và theo sắc lệnh La Mã, được xem là một vị Thần nhập thế trong hình hài con người. Người ta tin rằng ông là một Hữu Thể Thiêng Liêng đã bước xuống trần gian; các lực thiêng liêng đã hợp nhất với các lực của sự sinh thành, với dòng máu; quyền năng thiêng liêng, sau khi đi xuống cõi trần, đang đập và vận hành trong dòng máu. Đó là quan niệm chung lúc bấy giờ—dù được diễn đạt dưới nhiều dạng khác nhau—về việc Thần Tính cư ngụ trên trái đất. Con người nghĩ rằng Thần Tính gắn liền với các lực của huyết mạch. Họ nói: Ex Deo nascimur — Chúng ta sinh ra từ Thượng Đế. Và ngay cả trong những tầng bậc thấp hơn của đời sống, họ vẫn cảm thấy mình có liên hệ với điều đang sống như vương miện của nhân loại nơi một nhân cách như Caesar Augustus.
Tất cả những gì được tôn kính như vậy đều thuộc về Nguyên Lý Thần Tính của Chúa Cha. Bởi đó là Nguyên Lý sống trong dòng máu—trong điều mà con người mang theo khi được sinh ra vào thế giới. Nhưng trong Mầu Nhiệm Golgotha, Bản Thể Thiêng Liêng của Đức Christ đã kết hợp với con người Giê-su thành Nazareth—not theo cách hợp nhất với dòng máu, mà là hợp nhất với những lực cao nhất của linh hồn con người. Ở đây, một vị Thần đã kết hợp với một con người theo một cách thức cứu con người khỏi rơi vào sự chi phối tuyệt đối của các lực vật chất trần gian.
Chúa Cha sống trong dòng máu.
Chúa Con sống trong linh hồn và tinh thần của con người.
Chúa Cha dẫn con người vào đời sống vật chất:
Ex Deo nascimur — Chúng ta sinh ra từ Thượng Đế.
Nhưng Chúa Con dẫn con người trở lại từ đời sống vật chất:
Người dẫn linh hồn từ cõi hữu hình trở lại cõi siêu cảm giác.
In Christo morimur — Trong Đức Christ, chúng ta chết đi (và được tái sinh vào cõi tinh thần).
Có hai cảm xúc hoàn toàn khác nhau cùng hiện diện. Cảm nhận và tri giác về Chúa Con được thêm vào cảm xúc vốn gắn với Chúa Cha. Những xung lực nhất định trong tiến trình tiến hoá của nhân loại đã khiến con người dần đánh mất khả năng phân biệt giữa Ngôi Cha và Ngôi Con. Và cho đến ngày nay, những xung lực ấy vẫn còn tồn tại trong nhân loại nói chung và trong Kitô giáo nói riêng.
Những con người sở hữu trí huệ nguyên thủy thời xa xưa biết, qua kinh nghiệm nội tâm của chính mình, rằng họ đã đi xuống từ các thế giới Thiêng Liêng–Tinh Thần vào đời sống thể xác và vật chất. Tiền sinh (tiền hữu) là một sự thật chắc chắn và được chấp nhận phổ biến. Con người nhìn lại qua cánh cửa của sự sinh ra và thụ thai để hướng tâm lên các thế giới Thiêng Liêng–Tinh Thần, nơi linh hồn đi xuống lúc khai sinh để bước vào đời sống thể xác.
Trong ngôn ngữ hiện đại, chúng ta chỉ có từ “bất tử” (Immortality).
Chúng ta không có một từ tương đương cho mặt còn lại của vĩnh cửu, bởi ngôn ngữ của chúng ta không có từ “chưa sinh” hay “phi sinh” (Unborn-ness). Nhưng nếu khái niệm về Vĩnh Cửu muốn trọn vẹn, thì phải có cả hai: Unborn-ness (chưa sinh) và Immortality (bất tử). Thực ra, tất cả những gì hàm chứa trong từ Unborn-ness còn mang ý nghĩa lớn lao hơn cả những điều được bao hàm trong từ Immortality.
Đúng là con người bước qua cửa tử để đi vào đời sống tinh thần, nhưng đồng thời cũng rất đúng rằng ngày nay một quan niệm cực kỳ vị kỷ về đời sống sau khi chết thường được bày ra trước nhân loại. Con người sống nơi trần thế, họ khao khát sự bất tử vì họ không muốn tan biến vào hư vô khi chết. Vì thế, khi nói về Immortality, người ta chỉ cần đánh thức vào những bản năng vị kỷ đó.
Nếu bạn lắng nghe các bài giảng, bạn sẽ nhận ra biết bao bài trong số đó kêu gọi trực tiếp các xung lực ích kỷ của con người khi muốn đưa ý niệm bất tử vào tâm hồn họ. Nhưng khi nói đến Unborn-ness, người ta không thể dựa vào những xung lực ấy. Con người không vị kỷ đến mức mong muốn sự hiện hữu của mình trong thế giới tinh thần trước khi sinh ra, như họ vị kỷ trong khát khao sống tiếp sau khi chết.
Chỉ cần được bảo đảm rằng có sự sống sau cái chết, họ đã cảm thấy hài lòng.
“Hà tất phải bận tâm xem ta đến từ đâu?”—đó là cách con người thường nghĩ. Từ nơi cái tôi ích kỷ của mình, họ muốn biết về Hậu kiếp, nhưng không quan tâm về Tiền sinh.
Nhưng rồi, khi nhân loại một lần nữa phát triển được một trí huệ không vương chút ích kỷ, thì Unborn-ness sẽ trở nên quan trọng đối với họ y như Immortality quan trọng trong thời đại ngày nay.
Ngày xưa, con người biết rằng họ đã từng sống trong những cõi Thần – Linh thiêng liêng, rồi từ đó đi xuống vào đời sống vật chất thông qua sự ra đời. Họ cảm nhận rằng những lực sống bao quanh họ trong môi trường thuần túy tinh thần đã hòa nhập vào dòng máu, tiếp tục sống động trong huyết mạch. Và từ trực giác này, họ hình thành nên quan niệm: “Từ Thượng Đế mà chúng ta sinh ra.” Vị Thần sống trong dòng máu, vị Thần mà con người bằng xác thịt biểu hiện nơi trần thế — đó chính là Thượng Đế Cha.
Cực đối lập khác của đời sống — tức cái chết — đòi hỏi một xung lực khác của đời sống linh hồn. Trong con người phải có điều gì đó không bị tiêu tan cùng cái chết. Quan niệm tương ứng với điều này là về vị Thần dẫn dắt từ cõi trần thế và vật chất sang cõi siêu cảm giác và siêu vật lý. Đó là vị Thần gắn liền với Mầu nhiệm Golgotha. Nguyên lý Thần Linh của Đấng Cha luôn được liên hệ — và đúng như vậy — với quá trình chuyển từ cõi siêu cảm giác vào vật chất; còn thông qua Đấng Con, diễn ra quá trình chuyển từ cõi cảm giác – vật chất trở về cõi siêu cảm giác. Và đó là lý do tại sao tư tưởng Phục Sinh gắn chặt với Mầu nhiệm Golgotha. Lời Thánh Phaolô rằng “Đức Christ là Đấng mà Ngài là đối với nhân loại, bởi vì Ngài là Đấng Phục Sinh” — lời ấy là phần không thể tách rời của Kitô giáo.
Qua nhiều thế kỷ, sự thấu hiểu về Đấng Phục Sinh, về Đấng Chiến Thắng Cái Chết, dần dần bị đánh mất, và thần học hiện đại chỉ quan tâm đến con người Giêsu thành Nazareth. Nhưng con người Giêsu thành Nazareth, như một cá nhân, không thể được đặt ngang hàng với Nguyên lý của Đấng Cha. Giêsu thành Nazareth có thể được xem như sứ giả của Đấng Cha, nhưng theo lập luận của Kitô giáo sơ kỳ, Ngài không thể được đặt ngang hàng với Thượng Đế Cha.
Đấng Cha Thiêng Liêng và Đấng Con Thiêng Liêng là đồng đẳng và đồng tồn tại: Đấng Cha đưa sự sống từ cõi siêu cảm giác vào vật chất — “Từ Thượng Đế chúng ta được sinh ra” — và Đấng Con đưa sự sống từ vật chất trở lại cõi siêu cảm giác — “Trong Đức Christ chúng ta chết đi.” Và vượt lên trên cả sự sinh và sự tử, có một Nguyên lý thứ ba, phát xuất từ và đồng đẳng với cả Đấng Cha và Đấng Con — đó là Thần Khí — Chúa Thánh Thần.
Trong bản thể con người, chúng ta thấy được chuyển động từ siêu cảm giác vào vật chất, và từ vật chất trở lại siêu cảm giác. Và Nguyên lý không biết đến sinh hay tử chính là Thần Khí — Đấng mà trong Ngài và nhờ Ngài chúng ta được đánh thức trở lại: “Nhờ Chúa Thánh Thần chúng ta sẽ được tái sinh.”
Trong nhiều thế kỷ, lễ Giáng Sinh từng là một dịp lễ của sự tưởng nhớ. Việc bản chất sâu xa của lễ này nay đã bị mất đi được chứng minh bởi thực tế rằng điều còn lại trong ý thức nhân loại về Đấng Christ Jesus chỉ còn là con người Giêsu thành Nazareth. Nhưng đối với chúng ta ngày nay, Giáng Sinh phải trở thành một lời kêu gọi và thúc giục hướng tới điều mới mẻ. Một hiện thực mới phải được sinh ra. Kitô giáo cần một xung lực đổi mới, bởi khi Kitô giáo không còn hiểu được bản chất của Đấng Christ trong con người Giêsu thành Nazareth, thì nó đã đánh mất ý nghĩa và mục đích của mình. Ý nghĩa và tinh túy của Kitô giáo phải được tìm lại. Nhân loại phải học cách nhận ra rằng Mầu nhiệm Golgotha chỉ có thể được thấu hiểu dưới ánh sáng của tri thức siêu cảm.
Một yếu tố khác cũng góp phần vào sự thiếu thấu hiểu này về Mầu nhiệm Golgotha. Chúng ta có thể hướng ánh mắt yêu thương về Hài Đồng trong máng cỏ, nhưng chúng ta lại không mang trong mình được sự hiểu biết thấm đẫm trí tuệ về sự kết hợp giữa Bản thể Christ và con người Giêsu thành Nazareth. Chúng ta cũng không thể ngước nhìn lên các tầng trời với cường độ cảm xúc như những con người đã sống vào thời Mầu nhiệm Golgotha. Thời ấy, con người ngước nhìn các cõi sao trời và trong đường vận hành cùng những chòm sao, họ thấy như diện mạo của linh hồn và tinh thần Thần linh của vũ trụ. Và trong Đấng Christ, họ có thể thấy nguyên lý tinh thần của toàn thể vũ trụ được biểu hiện hữu hình trong vẻ huy hoàng của các thế giới sao.
Nhưng đối với con người hiện đại, các thế giới sao trời và toàn thể không gian vũ trụ chỉ còn lại như một sản phẩm của những phép tính — một cỗ máy vũ trụ học mà thôi.
Thế giới đã trở nên trống vắng các Thần Linh. Từ một thế giới đã rỗng không thần tính như vậy — thế giới mà thiên văn học và vật lý học ngày nay nghiên cứu — thì Bản thể Christ không bao giờ có thể giáng lâm. Trong ánh sáng của minh triết nguyên thủy mà nhân loại từng sở hữu, thế giới ấy hoàn toàn khác. Nó từng là thân thể của Linh Hồn Thần Linh Vũ Trụ và của Thần Khí Vũ Trụ. Và từ vũ trụ tinh thần ấy, Đấng Christ đã đi xuống trần gian và hợp nhất với con người Giêsu thành Nazareth. Sự thật này được chính lịch sử biểu hiện theo một cách thật sâu xa.
Khắp mặt đất, trước Mầu nhiệm Golgotha, đã tồn tại những Huyền Môn — những thánh điện vừa là trường học của tri thức, vừa là trường tu luyện của đời sống tôn giáo. Trong các Huyền Môn ấy, người ta được chỉ dẫn về những sự kiện phải đến trong tương lai. Ở đó, người ta được khải thị rằng trong bản thể con người có mang một quyền lực có thể chiến thắng cái chết; và chiến thắng ấy là một kinh nghiệm thực sự của các vị được điểm đạo. Trong trải nghiệm sâu thẳm, người ứng viên điểm đạo biết với niềm xác tín chắc chắn: Ngươi đã đánh thức trong chính mình sức mạnh chiến thắng tử thần.
Vị được điểm đạo nếm trải trong hình ảnh — như một thị kiến — tiến trình sẽ hoạt động một cách trọn vẹn trong những thời đại tương lai, theo đúng đại kế hoạch của lịch sử thế giới. Trong các Huyền Môn của mọi dân tộc, chân lý linh thiêng này đều được tuyên xưng: Con người có thể chiến thắng cái chết. Nhưng cũng được chỉ rõ rằng điều vốn chỉ có thể trình bày bằng hình ảnh trong Huyền Môn sẽ một ngày kia trở thành một sự kiện duy nhất và có thật trong lịch sử nhân loại.
Mầu nhiệm Golgotha chính là sự thành tựu của tất cả những gì đã được báo trước trong các thánh điện và linh điện của những Huyền Môn cổ xưa của ngoại giáo.
Khi người thụ lễ đã được chuẩn bị trong các Huyền Môn, khi ông đã trải qua quá trình tu luyện khó khăn để đi tới ngưỡng Điểm Đạo, khi ông đã giải phóng linh hồn khỏi những ràng buộc của thân xác đến mức linh hồn có thể hợp nhất với — và tri nhận — các thế giới tinh thần, khi ông đã tự mình biết chắc rằng trong bản tính con người, sự sống luôn chiến thắng cái chết, thì lúc ấy ông đối diện với trải nghiệm sâu thẳm nhất của các Huyền Môn cổ đại.
Và trải nghiệm sâu thẳm nhất ấy chính là nhận ra rằng chướng ngại do trái đất tạo ra — chướng ngại của vật chất — phải được vượt qua nếu điều vốn vừa là tinh thần vừa là vật chất muốn trở nên hiển lộ; ấy là mặt trời. Ứng viên được dẫn đến chiêm nghiệm một hiện tượng huyền bí — tuy vốn quen thuộc với mọi vị được điểm đạo — đó là: nhìn thấy mặt trời vào giờ nửa đêm, nhìn thấy mặt trời xuyên qua lòng đất, ở phía bên kia trái đất.
Những cảm thức bản năng về điều thiêng liêng nhất, linh thánh nhất, qua dòng lịch sử, vẫn còn lưu lại phần nào. Nhiều cảm thức và nhận thức đã suy yếu, nhưng với đôi mắt không thành kiến, người ta vẫn có thể nhận ra ý nghĩa xưa cũ còn vang vọng. Và vì vậy, từ sự kiện rằng vào đúng nửa đêm từ ngày 24 sang ngày 25 tháng 12, Thánh Lễ Nửa Đêm được cử hành trong mọi nhà thờ Kitô giáo, chúng ta có thể “đọc ra” được điều gì đó.
Ta có thể hiểu điều này khi biết rằng Thánh Lễ — trong bản chất sâu thẳm nhất — không gì khác hơn là sự tổng hợp của các nghi lễ và nghi thức Huyền Môn dẫn đến Điểm Đạo, dẫn đến việc chiêm ngưỡng mặt trời lúc nửa đêm. Thánh Lễ Nửa Đêm trong mùa Giáng Sinh chính là tiếng vọng của một cuộc Điểm Đạo, trong đó ứng viên, vào giờ nửa đêm, nhìn thấy mặt trời ở phía bên kia trái đất, và nhờ đó mà chiêm nghiệm được vũ trụ như một vũ trụ tinh thần.
Và đồng thời, Lời Vũ Trụ vang lên khắp cõi không gian — Lời Vũ Trụ vốn từ những vận hành và những chòm sao trên bầu trời mà ngân lên các huyền nhiệm của Bản Thể Vũ Trụ.
Máu là thứ khiến con người chia rẽ nhau. Máu trói buộc yếu tố thiêng liêng trong con người — yếu tố vốn giáng xuống từ những cõi trời — vào cái thế giới vật chất và trần tục. Đặc biệt trong thế kỷ của chúng ta, nhân loại đã phạm lỗi nặng nề đối với bản chất của Kitô giáo, bởi họ đã quay trở lại với nguyên lý của huyết thống. Nhưng con người phải tìm lại con đường dẫn đến Đấng là Christ Jesus — Đấng không nói với huyết thống, mà đã đổ máu mình, hiến dâng nó cho trái đất. Christ Jesus là Đấng nói với linh hồn và tinh thần con người, Đấng kết nối chứ không phân rẽ — để từ đó, Sự Bình An có thể nảy sinh giữa nhân loại trên mặt đất, nhờ sự hiểu biết của họ về Lời Vũ Trụ.
Thông qua một sự hiểu biết mới về Lễ Giáng Sinh, tri thức siêu cảm có thể biến vũ trụ vật chất trở lại thành tinh thần trước con mắt của linh hồn, biến đổi theo cách để mặt trời lúc nửa đêm có thể được nhìn thấy và được nhận biết trong bản tính tinh thần của nó. Chính loại tri thức này đem lại sự hiểu biết về Bản Thể siêu địa cầu của Đức Christ — Đấng Mặt Trời, Đấng đã kết hợp với con người Jesus ở Nazareth. Tri thức ấy cũng có thể đem lại sự hiểu biết về sức mạnh thống nhất, về sự bình an mà lẽ ra nên lan tỏa trên khắp các dân tộc của trái đất.
Các Thần Linh được mặc khải trên cõi cao, và qua sự mặc khải ấy, bình an ngân lên từ những trái tim con người — những con người của thiện chí.
Đó chính là lời của Lễ Giáng Sinh. Bình an trên trần thế hòa điệu cùng Ánh Sáng Thiêng đang tuôn tràn xuống địa cầu. Chúng ta cần nhiều hơn là chỉ tưởng nhớ ngày sinh của Jesus. Chúng ta cần hiểu — và thực sự cảm nhận — rằng một Lễ Giáng Sinh mới phải được sinh ra, rằng một Lễ Khai Sinh mới phải dẫn dắt nhân loại từ hiện tại bước vào tương lai gần. Một Xung Lực Christ mới cần được hạ sinh, cùng với một sự hiểu biết mới về bản tính của Đấng Christ.
Chúng ta cần tái khám phá chân lý rằng các cõi Trời linh thiêng và thế giới vật chất của Trái Đất vốn gắn bó bất khả phân, và rằng Mầu Nhiệm Golgotha là dấu ấn vĩ đại nhất của sự hợp nhất ấy. Chúng ta cần được hiểu lại vì sao, vào giờ khắc nửa đêm của Lễ Giáng Sinh, một lời cảnh tỉnh vang lên, nhắc chúng ta nhớ đến nguồn gốc Thiêng Liêng–Tinh Thần của con người, và đến sự thật rằng mặc khải từ các cõi trời không thể tách rời khỏi bình an của trần thế.
Đêm Thánh cần trở thành một thực tại. Không đủ nữa khi chỉ tặng quà cho nhau theo thói quen lâu đời. Những xúc cảm ấm áp từng nuôi dưỡng tâm hồn Kitô hữu qua nhiều thế kỷ đã phai nhạt. Chúng ta cần một Giáng Sinh mới, một Đêm Thánh mới — không chỉ để tưởng nhớ sự ra đời của Jesus ở Nazareth, mà còn để đón nhận một sự chào đời mới: sự khai sinh của một Xung Lực Christ mới. Từ trong ý thức tỉnh táo, chúng ta phải học lại rằng trong Mầu Nhiệm Golgotha, một Quyền Lực siêu cảm đã hiển lộ, đã bộc lộ chính mình trong thế giới vật chất. Chúng ta, bằng sự tỉnh thức đầy đủ, phải hiểu được điều mà xưa kia chỉ được cảm nhận một cách bản năng trong các huyền môn cổ đại. Chúng ta phải tiếp nhận xung lực ấy trong sự sáng suốt của ý thức.
Chúng ta phải học lại rằng khi Đêm Thánh Giáng Sinh trở thành một hiện thực sống động trong con người, thì con người có thể kinh nghiệm sự hợp nhất nhiệm mầu của nửa đêm — nơi mặc khải của các cõi Trời gặp gỡ bình an của Trái Đất.
Đây là ý nghĩa của những lời thiêng sẽ được nói ra sau đây, những lời được dành để dâng hiến cho Giáng Sinh. Chúng kết tinh những gì tôi mong muốn gửi đến tâm hồn và trái tim của các bạn tối nay. Chúng cố gắng diễn đạt — từ sự hiểu biết mang tính khoa học tâm linh về Đấng Christ — cách chúng ta có thể tìm lại nguồn minh triết từng sống trong con người theo bản năng, và vẫn còn sót lại phần nào vào thời của Mầu Nhiệm Golgotha, khi vẫn còn những người biết cách cử hành lễ mặc khải của Đấng Christ.
Ngày nay, chúng ta phải đạt đến một sự hiểu biết về Đấng Christ như một Bản Thể Vũ Trụ — một Bản Thể Vũ Trụ đã hợp nhất với Trái Đất. Thời điểm mà sự hiểu biết này trở nên khả dĩ cho phần đông nhân loại chính là thời của Đêm Thánh Vũ Trụ, thời khắc mà chúng ta đang chờ đợi sự đến gần của nó. Nếu ta hiểu được những điều này, ta sẽ có thể làm sống dậy trong lòng mình những cảm xúc mà tôi gửi gắm trong những câu thơ sau đây:
**Hãy chiêm ngưỡng Mặt Trời
Trong giờ khắc nửa đêm;
Hãy dựng xây bằng những hòn đá trên mảnh đất tưởng như vô sinh,
Và trong mục nát, trong đêm tối của Tử Vong,
Hãy tìm sự khởi nguyên mới của Sáng Tạo,
Sức sống của bình minh trẻ dậy.**
**Vinh quang trên cõi cao — Lời Vĩnh Cửu của các Thần;
Nương náu trong cõi sâu — Quyền Lực của Bình An.
Trong bóng tối mà trú ngụ, hãy tạo ra một Mặt Trời.
Trong vật chất mà dệt nên, hãy cảm nghiệm niềm vui của Tinh Thần!**
VIII. Sự Giáng Sinh của Đức Christ Trong Chính Chúng Ta
“Dù cho Đức Christ có được sinh ra một nghìn lần ở Bethlehem, nhưng không được sinh ra trong chính con, thì con vẫn mãi mãi lạc mất.”
Có hai phương diện trong câu nói tuyệt đẹp này của nhà Huyền học vĩ đại Angelus Silesius.
Thứ nhất là lời khẳng định rằng Lễ Giáng Sinh chân thật phải được cử hành trong cõi lòng sâu thẳm nhất của con người, rằng mọi sự kỷ niệm bên ngoài của dịp Giáng Sinh chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó đánh thức được xung lực trong đó, vào Đêm Thánh giữa mùa đông, những lực sâu kín nhất của tâm hồn được gọi dậy từ bóng tối bên trong, như bóng tối của mùa đông đang bao phủ bên ngoài.
Những lực sâu kín của tâm hồn này biết rõ sự hợp nhất của chúng với Đấng bao trùm toàn bộ tiến trình tiến hóa của Trái Đất, Đấng ban cho nó ý nghĩa và mục đích.
Khi chúng ta tiến thật sâu vào đời sống tâm hồn của chính mình, với sự tận hiến có ý thức dành cho những Quyền Năng Tinh Thần đang hoạt động trong thế giới, chúng ta sẽ tìm thấy điều gì đó bên trong mà Đức Christ kết hợp cùng.
Và phương diện thứ hai trong lời của Angelus Silesius là: con người trong tiến trình tiến hóa trên Trái Đất ngày nay có thể ý thức được rằng nhân tính đích thực — và sự xác tín về nhân tính đích thực ấy — phụ thuộc vào việc tâm hồn cảm thấy mình được kết hợp từ bên trong với bản chất và thực thể của Christ Jesus.
Qua nhiều năm, những nghiên cứu của chúng ta đã giúp chúng ta nhận ra rằng khi sự tiến hóa của Trái Đất tiếp tục, ý thức về Đức Christ cũng ngày một sâu sắc hơn, rằng con người, khi đi qua hết lần đầu thai này đến lần đầu thai khác, đạt đến sự hiểu biết ngày càng lớn về bản tính chân thật của Đức Christ.
Và chúng ta đã cố gắng làm sâu sắc thêm nhận thức này bằng cách dựa vào một nguồn mạch cho phép chúng ta cử hành Đêm Thánh Giáng Sinh, lễ mừng Sự Giáng Sinh của Jesus, theo một cách sâu xa và xứng đáng hơn.
Điều mà lời nói đó hàm ý sẽ trở nên rõ ràng qua bài giảng hôm nay.
Một nhà sử học nổi tiếng thời hiện đại từng được một người quan tâm đến thời cuộc hỏi rằng: tại sao trong các trước tác của ông không hề đề cập đến những sự kiện xuất phát từ Mầu Nhiệm Golgotha, cũng như những ảnh hưởng của Christ Jesus trong dòng lịch sử nhân loại.
Người ấy hỏi vì sao trong sách của ông, ta chỉ thấy nhắc đến ảnh hưởng của các vị giáo hoàng, các quân vương, các cuộc viễn chinh, các chính phủ, thậm chí cả những biến cố thiên nhiên—nhưng lại không dành dù chỉ một lời cho những lực đã tuôn vào nhân loại từ Mầu Nhiệm Golgotha và từ đó trở đi luôn hoạt động trong mọi đời sống và mọi sự kiện của con người.
Sau một hồi lâu im lặng và suy nghĩ sâu sắc, nhà sử học trả lời:
“Phương pháp mà tôi dùng để trình bày lịch sử phải giữ nguyên như thế.
Bởi những lực Christ chảy qua các biến cố trên thế giới thuộc về một cõi nguyên sơ mà trí tuệ con người không thể nhìn thấu.
Ảnh hưởng và tác động của Mầu Nhiệm Golgotha—đúng, nhất định có thể nhận ra; nhưng mô tả bản chất nội tại, tinh túy của những hành động của Christ thì không thể trong việc viết sử.”
Đây chỉ là một trong rất nhiều ví dụ có thể nêu ra để chứng minh rằng những trí tuệ xuất chúng và được soi sáng nhất của thời hiện đại cũng không thể nói rằng họ cử hành Lễ Giáng Sinh theo nghĩa nội tâm.
Bởi trong tâm hồn của nhà sử học ấy, Christ Jesus như một Hình Tượng sống động, như một Đấng đang sống, vẫn chưa trở thành một thực tại mãnh liệt đến mức ông có thể cảm nhận sự hiện diện của Ngài trong toàn bộ tiến trình tiến hóa nhân loại—từ năm này sang năm khác, từ tuần này sang tuần khác, thậm chí từ giờ này sang giờ khác.
Ngày nay, một học giả thực sự uyên bác vẫn có thể khảo sát toàn bộ dòng lịch sử mà không nhận ra rằng từ sau Mầu Nhiệm Golgotha, Quyền Năng của Christ đã hoạt động ở khắp mọi nơi.
Có rất nhiều nguyên do giải thích cho việc Lễ Đêm Thánh, Lễ Mầu Nhiệm Giáng Sinh, vẫn chưa được cử hành trong tâm hồn của phần lớn nhân loại.
Một sự soi sáng nào đó được đưa ra bởi một người đã nói về những điều này với một cảm nhận sâu xa và chân thực về Mầu Nhiệm Kitô giáo. Đó là Goethe, người đã thuật lại cách tuyệt đẹp cuộc đời và những hành trình của Wilhelm Meister.
Wilhelm Meister đến một tòa nhà lộng lẫy và được chủ nhân dẫn đi xem khắp nơi.
Ông được dẫn đến phòng trưng bày, nơi treo một loạt tranh mô tả những biến cố lịch sử quan trọng nhất của nhiều dân tộc thời cổ đại—đặc biệt là người Do Thái xưa—từ thời Địa Đàng, Sự Sa Ngã, rồi qua các thời kỳ về sau.
Lịch sử được khắc họa bằng những cảnh tượng gây ấn tượng sâu sắc, kết thúc bằng sự tàn phá Thành Jerusalem… nhưng không có một bức tranh nào mô tả cảnh trong đời sống của Christ Jesus, dù bộ tranh kéo dài qua cả thời điểm sau Đóng Đinh cho đến sự hủy diệt Jerusalem.
Wilhelm Meister hỏi:
Tại sao trong toàn bộ phòng tranh này không có gì mô tả về cuộc đời của Đấng thần linh, người đã mang lại biết bao ân phúc cho dòng tiến hóa của nhân loại?
— Sau đây là lời của ông:
“In your historical series I find a chasm. The Temple of Jerusalem is destroyed and the people dispersed, yet you have not introduced the divine Man who taught there shortly before; to whom, shortly before, they would give no ear.”
Và chủ nhân của tòa nhà đáp:
“Làm như ông yêu cầu sẽ là một sai lầm.
Cuộc đời của Đấng thần linh mà ông nhắc đến không hề gắn với lịch sử chung của thế giới vào thời đại ấy. Đó là một đời sống riêng tư; giáo huấn của Ngài là dành cho cá nhân.
Những gì xảy ra công khai với những khối người rộng lớn và các bộ phận tạo thành chúng thuộc về lịch sử chung của thế giới, thuộc về tôn giáo chung của thế giới—tôn giáo mà chúng tôi gọi là Tôn Giáo Thứ Nhất.
Những gì xảy ra một cách nội tâm với từng cá nhân thuộc về Tôn Giáo Thứ Hai, Tôn Giáo Triết Học; và chính một tôn giáo như thế là điều mà Christ đã dạy và đã thực hành trong thời gian Ngài còn đi lại trên trần gian.”
Đây là những lời thấm thía và rung động sâu sắc.
Mỗi con người trên trái đất đều có mối liên hệ cá nhân với Christ.
Lịch sử của các dân tộc—có thể gọi là “dân sử”—được dệt nên từ vận mệnh của các cộng đồng khác nhau, vì nó quan tâm đến những sự kiện chung mang tính nhân loại trong khung cảnh của định mệnh chung.
Nhưng những gì Christ Jesus đem vào thế giới lại thấm sâu và thấm tận vào trải nghiệm nội tâm của từng trái tim, từng linh hồn con người—bất kể họ thuộc về giai đoạn nào trong tiến hóa trần thế—chừng nào tâm hồn ấy cảm thấy mình thật sự là Con Người.
Chúng ta phải nhận ra rằng cảm thức “tự biết mình là con người” lần đầu tiên phát sinh từ những gì đã đi vào tiến hóa nhân loại thông qua Mầu Nhiệm Golgotha.
Giờ xin tiếp tục.
Chủ nhân của tòa nhà dẫn Wilhelm Meister đến một phòng trưng bày khác đã được giữ kín, nơi các sự kiện trong Tân Ước được mô tả.
Wilhelm Meister không được phép nhìn thấy các sự kiện của Tân Ước ở nơi trưng bày những biến cố và hành động diễn ra trong thế giới bên ngoài, mà chỉ được thấy chúng trong một thánh điện huyền môn, nơi mà linh hồn phải được chuẩn bị sẵn—phải rút khỏi những điều thuộc về lịch sử thế tục của các dân tộc.
Nền tảng hoạt động của tâm hồn lúc này phải là huyền môn và mang tính cá nhân; khi ấy, con người mới có thể bước qua Ngưỡng để đến với những bức tranh mô tả các cảnh trong Tân Ước.
Ở đây, một lần nữa, loạt tranh dừng lại trước Bữa Tiệc Ly, không vượt xa hơn.
Wilhelm Meister hỏi:
“Khi ông đã trình bày đời sống của Đấng thần linh như một khuôn mẫu và tấm gương, vậy ông có chọn lựa cả những đau khổ và cái chết của Ngài không?”
Câu trả lời ông nhận được mang ý nghĩa sâu sắc—một câu trả lời cho thấy niềm kính sợ thiêng liêng đi kèm với việc tiếp cận Mầu Nhiệm được hoàn tất trên trần gian bởi Đấng đã cư ngụ trong thân xác mà sự ra đời của Ngài được kỷ niệm vào Đêm Thánh mùa đông.
Wilhelm Meister đã được dẫn đến, như thể, tầng thứ nhất của chân lý huyền môn—ở đó ông được chứng kiến những cảnh được mô tả cho đến Bữa Tiệc Ly;
nhưng rồi đến phần huyền môn nhất, được nói đến với sự cung kính sâu xa và thánh thiện:
“Chúng tôi che một tấm màn lên những đau khổ ấy, vì chúng tôi tôn kính chúng vô cùng.
Chúng tôi xem việc trưng bày cây Thập Giá thống khổ và Đấng Thánh chịu khổ hình trên đó dưới ánh sáng mặt trời là một sự táo bạo đáng nguyền rủa.”
(Travels of Wilhelm Meister, Phần II)
Đây là một ví dụ về cảm thức huyền môn còn tồn tại trong thế kỷ 18.
Cảm thức ấy lành mạnh và chân thực, vì chính chúng ta cũng dễ dàng đồng ý rằng những hình ảnh mô tả sự thương khó của Christ, trừ khi được tạo nên bởi một nghệ sĩ bậc thầy, thường hạ thấp Mầu Nhiệm Golgotha xuống mức con người.
Và chúng ta có thể hiểu rằng một người trong thế kỷ 18 có cảm nhận sâu xa về Mầu Nhiệm Golgotha sẽ tránh nhìn vào những hình ảnh bị bóp méo về Thánh Mầu Nhiệm này, thà che chúng lại bằng một tấm màn, vì người ấy cảm thấy rằng chỉ những lực sâu kín nhất của tâm hồn mới có thể kết hợp—bằng cách siêu cảm giác—với những gì liên quan đến và theo sau Bữa Tiệc Ly.
Nhưng điều gì nằm bên dưới những cảm thức và trải nghiệm huyền môn ấy?
Trong lòng con người đã vang lên nỗi khao khát, một viễn cảnh, một nhận thức về Mầu Nhiệm Christ vĩ đại hơn bất kỳ điều gì có thể nhận ra vào thời điểm ấy.
Với tất cả sự khiêm nhường—một sự khiêm nhường sâu sắc hơn bất kỳ sự khiêm nhường nào chúng ta dành cho những vấn đề khác của khoa học tâm linh—ta có thể nói một cách chân thật rằng:
Trong suốt nhiều thời đại, những linh hồn tốt đẹp nhất đã khao khát, mong mỏi tri thức về Christ chỉ có thể được trao qua khoa học huyền bí.
Và hôm nay, chúng ta có thể chắc chắn rằng khi thời điểm chín muồi, linh hồn con người sẽ chiêm nghiệm thực tại những điều trước nay chỉ có thể được biết đến qua những hình thức khác.
Ý thức rằng tri thức ấy một ngày nào đó sẽ trở nên khả đạt, và niềm khao khát tri thức ấy, đã trở thành một trong những điều bí ẩn lớn lao của đời sống đối với những linh hồn cao quý nhất.
Con người đã vươn tới một sự hiểu biết về Christ giúp họ nắm bắt được ý nghĩa của Hành Động vĩ đại được hoàn tất trên Golgotha, hành động có thể được mắt của linh hồn chứng kiến khi tấm màn được vén lên.
Trong buổi giảng hôm qua, tôi đã giải thích vì sao tri thức về Christ từng được phong phú hóa bởi khả năng linh thị xưa kia lại buộc phải thoái lui:
cách nó được đón nhận trong những thời kỳ đầu của Kitô giáo, nhưng rồi dần nhạt phai và biến mất.
Hôm nay tôi lại đọc một bài thánh thi Ngộ Đạo cổ, qua đó ta thấy rằng trong dạng tri thức linh thị xưa, ý thức vẫn sống động rằng:
Christ—Đấng đi vào thế gian qua Hài Nhi sinh trong đêm Giáng Sinh—là một Đấng Vũ Trụ, và Ngài càng trở nên huy hoàng, vĩ đại bao nhiêu khi linh hồn vươn cao tầm nhìn vào các cõi tinh thần—vì chính qua những cõi ấy Ngài đã đi xuống.
Và do đó, về sau, khi nguồn mạch tri thức ấy đã cạn kiệt, thì cũng là điều không tránh khỏi rằng một tấm màn phải được che lên Sự Kiện Vĩ Đại ấy, bởi vì con người đã không còn khả năng giải thích rằng trong điều huyền nhiệm được biểu hiện nơi Hài Nhi ấy chính là nơi trú ngụ của sự khôn ngoan cao nhất.
Trong Hài Nhi ấy đã được sinh ra một Đấng từng băng qua các thế giới thiên giới trước khi xuất hiện trên trần gian.
Bài thánh thi viết:
“Kìa, lạy Cha,
xa lìa Hơi Thở của Ngài,
Hữu thể này trên trần thế
(hữu thể đó chính là linh hồn con người)
lang thang—mục tiêu và nạn nhân của muôn điều dữ.
Lạc lối và hoang mang, nó chạy trốn cõi hỗn mang chết chóc—
Làm sao nó có thể tìm được đường?”
Trong cuộc đối thoại với Cha Thiêng Liêng,
Jesus nói về hành trình đi xuống qua các tầng vũ trụ,
về cách Ngài hướng mắt đến linh hồn con người—linh hồn mà Ngài khát khao ban sự cứu rỗi, linh hồn đang lạc lối trong hỗn mang nhưng vẫn khát khao Christ.
“Vậy nên, xin hãy sai Con, lạy Cha,
Con đi xuống, mang theo ấn tín của thiên đường,
băng qua mọi Aeon…”
Các thế giới tinh thần được sắp xếp tầng tầng lớp lớp trong các thiên cầu, và càng đi lên cao, chúng ta càng thấy rằng những thế giới xưa nhất vẫn là những thực tại đang sống, với thế giới cổ xưa nhất vẫn tồn tại cho đến ngày nay trong những tầng trời cao nhất.
Những gì từng gắn với giai đoạn tiến hóa Saturn có thể được tìm thấy trong các cõi tinh thần tối thượng, và các tầng kế tiếp—gắn liền với dòng chảy của thời gian—được gọi là các “Aeon.”
Băng qua mọi Aeon,
Trao dạy mọi tri thức thiêng liêng;
Nhờ vậy hình ảnh của Thiên Chúa có thể được biểu lộ;
Và như thế, ta ban cho ngươi
Tri thức sâu kín của con đường thiêng:
‘Gnosis’ sẽ được tặng cho ngươi.”
Nhân loại đã phần lớn đánh mất ý thức về Christ như một Đấng Vũ Trụ.
Sự mất mát này là điều tất yếu, bởi khả năng linh thị cổ đại phải biến mất; một giai đoạn trung gian—một Aeon vắng bóng tinh thần—phải đến, để rồi cuối cùng một dạng linh thị mới có thể xuất hiện.
Nhưng dạng linh thị mới này phải hướng về các thế giới tinh thần, chứ không được mô tả Đấng đã đi vào tiến hóa nhân loại trong Đêm Thánh bằng những hình ảnh bên ngoài theo cảm giác vật chất.
Thị kiến mới phải hé lộ cách Đấng Christ đi xuống từ thiên cầu này sang thiên cầu khác, rồi đến trần thế, và bằng hành trình đó trao ý nghĩa và mục đích cho trái đất.
Bài thánh thi cổ tiếp tục:
**“Kìa, lạy Cha,
xa lìa Hơi Thở của Ngài,
Hữu thể này trên trần thế
lang thang—mục tiêu và nạn nhân của muôn điều dữ.
Lạc lối và hoang mang, nó chạy trốn cõi hỗn mang chết chóc—
Làm sao nó có thể tìm được đường?
Vậy nên xin hãy sai Con, lạy Cha,
Con đi xuống, mang theo ấn tín của thiên đường,
Băng qua mọi Aeon,
Trao dạy mọi tri thức thiêng liêng;
Nhờ vậy hình ảnh của Thiên Chúa có thể được biểu lộ;
Và như thế, ta ban cho ngươi
Tri thức sâu kín của con đường thiêng:
‘Gnosis’ sẽ được tặng cho ngươi.”**
Thực chất, trái đất bao quanh chúng ta là gì, khi ta nhìn vào bản thể cốt yếu của nó?
Nếu trước mặt bạn là thi thể của một người mà linh hồn đã rời vào các cõi tinh thần, bạn có bao giờ nói: Đây là một con người? Bạn có nói rằng: Theo nghĩa trọn vẹn, đây vẫn còn là con người? Những phần cao hơn trong bản thể con người không còn hiện diện trong thân xác mà linh hồn đã rời bỏ.
Nhưng từ giữa thời kỳ Atlantis, trái đất đã dần dần trở thành một thân xác không còn linh hồn. Trái đất quanh ta, dù mang trong mình muôn vẻ đẹp, đã tiến gần tới trạng thái của một xác thân từ giữa thời Atlantis và ngày càng trở nên giống một thi hài. Đứng trước những khối đá khổng lồ, không lời nào đúng hơn là: đây chính là bộ xương mà trái đất đã và đang trở thành từ thuở ấy! Trong trái đất đầy đá và sỏi, ta thấy phần đang chết dần của sinh thể Trái Đất, vốn chỉ là một cơ thể sống cho đến giữa thời đại Atlantis.
Ngay cả địa chất học cũng nhận ra rằng khi ta bước đi trên mặt đất hay dẫn lưỡi cày qua thớ đất, thực chất ta đang bước trên thi thể của trái đất, đang cày qua thi thể của trái đất. Các nhà địa chất đã thừa nhận điều này, và chính khoa học bên ngoài, một khi bắt đầu thực sự suy nghĩ, cũng không thể cho rằng khác đi. Vì vậy, khi ta được bao quanh bởi trái đất, ta đang đối diện với cái chết; chúng ta là những chứng nhân của sự tàn lụi dần của quả địa cầu.
Giờ hãy thử hình dung: nếu Mầu Nhiệm Golgotha đã không xảy ra, nếu Đấng Vũ Trụ mà ta gọi là Đức Christ đã không bước vào tiến trình tiến hóa của Trái Đất thông qua hai cậu bé Giêsu.
Khi ấy, tiến hóa của trái đất đã không còn nữa, đã bị cái chết chấm dứt từ lâu, chắc chắn là trước thời đại hôm nay. Nhưng thông qua hai cậu bé Giêsu, Đức Christ đã đi vào tiến hóa trần gian, và rồi, sống trong một người trong ba năm, đã hoàn tất Mầu Nhiệm Golgotha—qua đó, một hạt giống sự sống mới đã được trao cho trái đất.
Vì vậy, khi thời điểm tới, trái đất sẽ không mãi là một thi thể trôi nổi trong không gian vũ trụ—với linh hồn bị rơi vào tay Ahriman và Lucifer! Không, đó là điều sẽ xảy ra nếu như Đức Christ không đến như một hạt giống sống động và phì nhiêu. Bởi vì Ngài đã đến, trái đất sẽ không tan thành bụi, linh hồn cũng không bị Lucifer và Ahriman chiếm giữ, vì Hạt Giống Christ đã truyền một sức sống mới vào tiến hóa của trái đất!
Cũng như trái đất đã từng tách khỏi mặt trời và trở thành đứa con của mặt trời, thì tiến hóa trái đất, được thấm nhuần một xung lực mới, cũng sẽ tràn đầy ý nghĩa và mục đích mà Đức Christ ban tặng.
Vì thế, khoa học tâm linh khiến mắt ta hướng lên với sự kính sợ và tôn nghiêm đối với Mầu Nhiệm Golgotha; và bởi vì nó chỉ đến những cõi vượt khỏi tầm nhìn vật chất, ta cảm thấy mình có bổn phận hé mở tấm màn… bởi ta quyết tâm nhìn vào nơi mà đôi mắt của thời đại vật chất không thể thấy. Vì vậy, lại trở nên có thể, đối với những ai trong lòng đã đánh thức các xung lực của khoa học tâm linh, hướng ánh mắt lên Đức Christ như một Đấng Vũ Trụ.
Điều này không hề làm giảm đi lòng tôn kính vô bờ mà ta dành cho Hài Nhi ra đời trong Đêm Thánh Giáng Sinh. Ngược lại, lòng tôn kính ấy càng đi sâu hơn khi ta cảm nhận Đức Christ một cách sống động như nhà thơ Christian Morgenstern cảm nhận—từ tâm hồn ông đã bật lên những vần thơ như sự hồi sinh của tư tưởng Gnostic xưa, tràn ngập Tình Yêu của Christ và minh triết vũ trụ.
Và như thế, một Lễ Giáng Sinh mới được cử hành—khi trong đêm đen của chủ nghĩa duy vật, vang lên những âm hưởng không còn là của các nhà Ngộ Đạo xưa, mà đã được hồi sinh và làm giàu thêm bởi sự dâng hiến cho Đấng Christ Vũ Trụ Sống Động.
Licht ist Liebe …
Ánh sáng là Tình yêu… Dệt nên bởi Mặt Trời,
Những tia yêu thương của một thế giới
của các Đấng Sáng Tạo—
đã qua những thời đại khôn dò
ôm giữ chúng ta trong trái tim các Ngài,
và cuối cùng ban tặng cho chúng ta
vị Thần cao cả nhất của các Ngài
trong hình hài một Con Người
suốt ba năm: khi Ngài bước vào
gia tài của Cha mình—nay trở thành
Ngọn Lửa Thiên Quốc sâu thẳm nhất của Trái Đất:
để rồi chính Trái Đất cũng một ngày
hóa thành Mặt Trời.
(Ánh sáng là Tình yêu… những tia nắng mặt trời là những sợi tơ phát sáng dệt nên một thế giới của các Đấng Sáng Tạo đầy tình yêu. Họ, sau khi ôm ấp chúng ta trong trái tim mình qua những thời đại vô biên, cuối cùng đã trao tặng chúng ta Đấng Tối Cao nhất của các Ngài. Được khoác trong thân xác một Con Người suốt ba năm, rồi Ngài bước vào phần gia nghiệp của Cha mình – và nay là ngọn lửa thiên giới thẳm sâu nhất của chính Trái Đất, để rồi một ngày kia, Trái Đất cũng có thể trở thành Mặt Trời.)
“Dẫu cho Đức Christ có được sinh ra một ngàn lần ở Bethlehem, mà không được sinh ra trong chính con, thì con vẫn mãi mãi lạc mất.”
Ước sao trong tâm hồn chúng ta có thể cử hành một lễ hội nội tâm của Đêm Thánh; ước sao linh hồn ta được tràn đầy nhận thức rằng một hiểu biết mới về Đức Christ phải được khai sinh trong thời đại chúng ta.
Sự hiểu biết mới này kết nối phần sâu thẳm nhất của bản thể con người với sự trong trắng nguyên thủy—kết nối thời thơ ấu, chứ chưa phải thời trưởng thành, với những tầng cao nhất của hữu thể vũ trụ.
Khi trong Đêm Thánh mùa đông, tâm trí ta hướng về Hài Nhi Thánh, thì ngay trước linh hồn ta diễn ra lễ hiến dâng vĩ đại nhất, lễ hội ngân vang qua mọi Thời Đại—và ta biết rằng những thực tại sâu xa nhất của con người và bản tính của họ được gắn kết không thể tách rời với toàn bộ tiến trình tiến hóa của vũ trụ.
Những ai để cho khoa học tâm linh thắp lên ngọn lửa trong trái tim mình thì cảm nhận và biết rằng chiến thắng mọi cái chết có thể đạt được khi linh hồn hợp nhất với Đấng Christ. Hôm nay tôi đã nói về điều này trong lễ tang của một người bị chiến tranh cướp đi cách bi thảm.
Sự nhận thức rằng những đỉnh cao của hữu thể vũ trụ gắn kết với phần sâu thẳm nhất của con người là điều không thể, chừng nào tâm trí con người chưa hiểu rằng tinh hoa của lịch sử nằm trong Mầu Nhiệm Bethlehem.
Nhưng sự thấu hiểu này sẽ đến với những ai hiểu bí nhiệm về hai cậu bé Giêsu.
Trong một cậu bé, hiện diện sức mạnh của bậc minh triết nhất trong thời tiền–Kitô giáo, đó là Zarathustra. Cậu bé này đại diện cho kết tinh rực rỡ nhất của các giai đoạn tiến hóa nhân loại trước đó.
Hào quang của cậu bé kia lại được chiếu sáng bởi lực của Đức Phật vĩ đại.
Thân thể của một cậu bé xuất phát từ dòng máu cao quý nhất của dân Do Thái cổ; linh hồn của cậu bé Giêsu được mô tả trong Phúc Âm Luca thì bắt nguồn từ thuở khởi nguyên của Trái Đất.
Linh hồn của cậu bé Giêsu này đã được giữ lại—khi vào thời Lemuria, con người đi xuống Trái Đất; linh hồn ấy được các Bí Nhiệm bảo tồn cho đến khi được gửi vào thân xác của cậu bé Giêsu mà Phúc Âm Luca kể lại. Người ta nói rằng ngay sau khi chào đời, Đứa Trẻ đã thốt ra những lời chỉ mình Người Mẹ hiểu được, bằng một thứ tiếng không giống bất cứ ngôn ngữ nào khác—và chính Đứa Trẻ cũng quên đi khi ý thức trần gian bừng dậy trong mình. Một bí nhiệm đã được cất lên ngay sau khi sinh ra… Và thật vậy, nhiều điều chúng ta trình bày về Mầu Nhiệm Christ chính là sự khai mở những gì đã được thốt ra bởi cậu bé Giêsu trong Phúc Âm Luca ngay khi vừa chào đời.
Nhờ vậy, khoa học tâm linh cho phép ta hiểu Xung Lực Christ trong chiều sâu của tiến hóa nhân loại—kể cả thời tiền–Kitô giáo—vì các ranh giới biến mất, và tiếng nói của các Bậc Khai Tâm vẫn còn vang vọng.
Khi con người nắm bắt được tầm vóc của những gì đã tràn vào tiến hóa nhân loại qua Mầu Nhiệm Golgotha, thì những lực này có thể tiếp tục sinh hoa kết trái ở mức độ lớn hơn nữa. Nhưng con người phải biết Đức Christ là Ai trước khi họ có thể nói đúng về Ngài—ngay cả trong lịch sử.
Nếu trong phong trào của chúng ta có những con người—với số lượng ngày càng tăng—quyết tâm thắp lên ánh sáng trong những tầng sâu nhất bên trong mình, nơi từ sau Mầu Nhiệm Golgotha đã nằm trong tầm tay con người, thì Ánh Sáng Christ sẽ chiếu tỏa trong từng linh hồn.
Ánh Sáng Christ ấy trở thành Cây Giáng Sinh chiếu sáng toàn bộ tiến hóa trong những thời đại sẽ tới.
Linh hồn rồi sẽ thấy một Trái Đất được làm cho sống lại, sẽ tìm thấy Đức Christ ở khắp nơi trong Trái Đất mới này.
Những ai đã liên kết mình với khoa học tâm linh có thể đón nhận những tin tức về Đức Christ với một chiều sâu cảm xúc đến mức Lễ Giáng Sinh rồi sẽ được cử hành trong chính từng linh hồn.
Đó là Lễ Hội tượng trưng cho sự khai sinh của tri thức về Đức Christ, thứ tri thức đến từ chính Đức Christ, và vì thế trở thành sự khai sinh của Đức Christ trong nội tâm chúng ta.
Thật đúng đắn, quá đúng đắn, lời nói:
“Dẫu cho Đức Christ có được sinh ra một ngàn lần ở Bethlehem, mà không được sinh ra trong chính con, thì con vẫn mãi mãi lạc mất.”
Nhưng vào dòng thơ tuyệt đẹp ấy của Angelus Silesius, chúng ta có thể thêm:
Chúng ta được an lành muôn đời nếu ta tìm kiếm trải nghiệm thuộc về Đêm Thánh mùa đông—nếu ta tìm cách đưa Đức Christ sinh ra trong thẳm sâu linh hồn mình.